Mỗi con hẻm đều san sát những tấm bảng hiệu tiếng Nga. Trong câu chuyện của những người khách bộ hành cũng nghe thấy tiếng Nga nhiều hơn tiếng Hàn. Đây chính là hình ảnh của “làng Goryeo-in”, hay “Goryeo-saram” (“làng người Goryeo”) ở Wolgok-dong, quận Gwangsan, thành phố Gwangju, nơi tập trung sinh sống của những kiều bào đã từng sống tại Trung Á sau đó di cư trở về quê hương.
Trẻ em đang học tiếng Hàn tại nhà trẻ ở Làng Goyeo-in, tại Gwangju. Những kiều bào người Hàn từ vùng Trung Á rất xem trọng việc giáo dục thiếu nhi, đặc biệt là khả năng tiếng Hàn. Trong làng còn tổ chức nhiều khóa tiếng Hàn với các trình độ khác nhau dành cho thanh niên và cả người lớn.
Kiều bào người Hàn đang sống tại Cộng đồng các Quốc gia độc lập (Xô-viết cũ) được gọi chung là “Goryeo-in”, tức “người Goryeo”. Những người này đã trải qua từ ba đến năm thế hệ và là hậu duệ của dân tộc đã phải chịu đựng ít nhất trên ba lần nỗi bi ai của những cuộc di cư. Đầu thế kỷ 20, vào thời kỳ Nhật Bản chiếm đóng, thế hệ thứ nhất đã di cư từ bán đảo Hàn tới tỉnh Maritime, một vùng duyên hải của Nga. Dưới thời Stalin, họ có lúc bị nghi ngờ là gián điệp của Nhật và bị cưỡng chế trục xuất tới vùng Trung Á. Mặc dù phải di cư đến một vùng đất hoang vu xa lạ nhưng con cháu của họ vẫn duy trì sự sống bền bỉ. Sau khi Liên Xô tan rã, một lần nữa họ lại phải chịu sự kỳ thị tại vùng Trung Á. Không chịu đựng nổi, họ quyết định tìm lại gốc rễ của mình và quay về Hàn Quốc.
Hiện nay có khoảng hơn 40.000 người Goryeo-in đang cư trú tại Hàn Quốc, và trong đó có tới hơn 4.000 người sinh sống tại phường Wolgok, thành phố Gwangju. Những người này chủ yếu sống trong những nơi ở chật hẹp như phòng trọ đơn. Họ làm công nhân trong các công xưởng sản xuất hoặc làm lao động công nhật để kiếm kế sinh nhai. Nhà thơ Kim Vladimir, người từng giảng dạy văn học Nga tại trường Đại học Văn học và Y Khoa Tashkent Uzbekistan cũng có hoàn cảnh gia đình như vậy. Năm 2011, ông Kim cùng vợ, con gái, con trai và các cháu, toàn bộ gia đình hơn 10 người đã lựa chọn quay về Hàn Quốc mà không suy tính gì. Lý do bởi họ nghe nói ở Gwangju có một ngôi làng của người Goryeo-in.
Nhiều người Goryeo-in cũng giống như ông Kim, họ nghe tin đồn và tìm đến nơi đây, chủ yếu làm việc công nhật tại những khu công nghiệp của Gwangju hay những khu nông – công nghiệp lân cận. Một cách tự nhiên họ lựa chọn chỗ ở của mình tại những khu vực nhà trọ rẻ tiền ngay gần nơi làm việc, và thế là Wolgok-dong trở thành ngôi làng của những người Goryeo-in.
Quán cà phê Cемья́ (Gia đình) chuyên bán các loại bánh mì đặc trưng của vùng Trung Á nướng theo cách truyền thống. Ở đây, người Goryeo-in có thể thưởng thức món ăn của quê hương, trong khi khách du lịch từ các vùng khác đến có cơ hội trải nghiệm ẩm thực lạ miệng.
Xây dựng cuộc sống tại ngôi làng
Những người Goryeo-in mặc dù phải đối mặt với môi trường sống xa lạ và điều kiện kinh tế khó khăn, nhưng với tinh thần cộng đồng keo sơn, họ đã tạo nên một tổ ấm mới ở nơi này. Nhiều không gian hỗ trợ tất cả các mặt đời sống như trung tâm hỗ trợ nhân dân, tổ chức hợp tác xã, xây dựng nhà trẻ, nhà thiếu nhi địa phương, bàn tư vấn, những điểm nghỉ chân, đài truyền thanh của làng đã được thành lập một cách tự nguyện, mang đến một nơi ở với cuộc sống tràn đầy sinh khí.
Dân số gia nhập ngày càng tăng và những trường hợp tự kinh doanh cũng ngày càng phát triển. Ở quán café có tên “Cемья́” (tiếng Nga nghĩa là “Gia đình”), họ tự làm và bán món bánh mỳ mạch nha cùng thịt xiên nướng – những món ăn chính của vùng Trung Á. Quán cà phê này của ông chủ Jun Valery mở ra năm 2015, được coi là quán ăn đầu tiên xuất hiện ở ngôi làng Goryeo-in, đến nay nó đã có bốn chi nhánh dưới sự điều hành của vợ chồng con gái lớn và con trai của ông.
Một quán cà phê khác theo phong cách châu Âu cũng được nhiều người ưa chuộng tên là “Koreana”, được mở vào tháng 10 năm 2017 bởi Huh Anastasia. Từ những hộ tự kinh doanh thành công ngày càng tăng như vậy, những quán ăn, công ty du lịch, cửa hàng đổi tiền, cửa hàng lưu niệm tăng lên hơn 30 cửa hiệu tạo nên “con phố trung tâm của làng Goryeo-in”.
Việc bắt đầu sinh sống của người Goryeo-in tại đây bắt nguồn từ khoảng năm 2001 khi bà Shin Joya – một người làm nghề bà đỡ trong làng, là hậu duệ đời thứ ba của người Goryeo-in – đặt chân tới Hàn Quốc. Nguyên do là bà Shin làm việc trong nhà máy nhưng bị nợ lương và phải thỉnh cầu sự giúp đỡ của mục sư Lee Chun-young của nhà thờ Seanal (“Ngày mới”). Sau đó với sự giúp đỡ của vị mục sư này bà Shin đã thành lập “Làng tập thể người Goryeo-in” vào năm 2005 tại Wolgok-dong, và mở ra một trung tâm dành cho người Goryeo-in tại tầng một của một tòa nhà thương mại cũ kỹ.
Trường Saenal (Ngày mới) là ngôi trường đa văn hóa đầu tiên của Hàn Quốc. Trường có nhiều chương trình đào tạo nghề, bao gồm cả nghề mộc dành cho các thanh niên kiều bào di cư từ vùng Trung Á đến, để họ có thể nhanh chóng hòa nhập với xã hội Hàn Quốc.
Từ năm 2007, việc cấp visa thăm viếng làm việc được ban hành đã mở ra một con đường cư trú hợp pháp đối với kiều bào người Goryeo-in và Chosun-in (kiều bào Hàn ở Trung Quốc). Nhờ đó số người Goryeo tìm đến Gwangju đã tăng vọt.
Lý do người Goryeo-in chỉ kéo tới nơi này rất đơn giản. Bởi vì có những lời đồn truyền miệng được lan truyền rộng rãi tới những quốc gia ở Trung Á, rằng mọi người mới trở về đều được giúp đỡ giải quyết các vấn đề như thông dịch hay tìm chỗ ăn ở. Để xây dựng được môi trường sống như vậy phải nhờ đến công lao của bà Shin Joya, người đã giải quyết xử lý mọi khó khăn như chính công việc của mình. Bà Shin được mệnh danh là “mẹ đỡ đầu của người Goryeo-in”. Những người Goryeo-in sinh sống ở đây luôn có câu nói cửa miệng rằng, “Nếu không có mẹ Joya thì chúng tôi không thể sống được”. Bà Shin nói, trong điện thoại di dộng mình, chỉ riêng số điện thoại của người Goryeo-in đã có hơn 2.000 số được lưu. Bà Shin cùng với người chồng kết hôn năm 2008 của bà – cũng là dân thoát ly khỏi Triều Tiên – nên hơn ai hết hiểu nỗi thống khổ của dân di cư, vì thế họ đã trở thành người bạn gắn bó sắt son cùng với người Goryeo-in.
Dạy tiếng Hàn cho trẻ em và người lớn
“Ở Uzbekistan, người Goryeo-in dù thông minh đến mức nào cũng chỉ nhận được sự đối xử thấp kém. Dù có tốt nghiệp tại hai trường đại học thì cũng không thể xin việc”. Đó là lời của cô Shin Joya. Cô ấy quá vất vả để kiếm sống nên đã quyết tâm tìm về quê cha đất tổ của mình.
Cô Jung Svetlana – kiều bào Goryeo-in đời thứ ba – cũng với lý do đó đã trở về nơi này. “Tôi về đây và vào làm việc cho một công xưởng lắp ráp máy giặt. Vào ngày chủ nhật, tôi rửa bát tại nhà hàng, cứ như vậy đã có thể tiết kiệm được một khoản tiền vừa đủ tiền đặt cọc cho một phòng trọ đơn giá 500 ngàn won.”
Sau khi Liên Xô tan rã, những quốc gia độc lập Trung Á bắt đầu sử dụng ngôn ngữ của nước mình và mở ra những chính sách ưu tiên cho người dân trong nước. Vì vậy, những người Goryeo-in chỉ biết tiếng Nga dần trở thành những kẻ yếu thế trong xã hội. Thế nhưng những người Goryeo-in từng rời khỏi quê hương vì bị phân biệt đối xử bởi ngôn ngữ, lại vấp phải ngôn ngữ là cản trở lớn nhất khi trở về chính tổ quốc của mình. Nhiều thủ tục giấy tờ hành chính tại các cơ quan công quyền để giải quyết vấn đề visa, gửi con đến trường học, mua bán hàng hóa ở chợ... biết bao công việc thường nhật đơn giản cũng trở thành rào cản khó khăn đối với những người không thông thạo tiếng Hàn.
Vì lý do đó, trong làng người Goryeo-in này, công việc được coi trọng nhất chính là giáo dục thế hệ tương lai. Những kiều bào Chosun-in [người Hàn ở Trung Quốc] hay những lao động nhập cư từ Đông Nam Á thường chỉ tới một mình làm việc và kiếm tiền, nhưng những người Goryeo-in lại chủ yếu trở về cùng với cả gia đình, thường là ba thế hệ, nên vấn đề giáo dục lại càng cần quan tâm hơn hết. Tại ngôi làng này, nơi được giao nhiệm vụ trọng tâm giáo dục cho người Goryeo-in chính là trường học Seanal (“Ngày mới”) – trường học đa văn hóa đầu tiên của Hàn Quốc. Được thành lập vào năm 2007, trường học này chính thức được công nhận trong hệ thống giáo dục vào năm 2011. Trường học này hoàn toàn miễn phí, đào tạo tổng hợp cả ba cấp học, tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông trung học. Khác với những cơ sở giáo dục khác, trường chủ yếu tập trung giáo dục nhân cách cho học sinh. Danh tiếng về ngôi trường đã được lan truyền rộng rãi trong cộng đồng người Goryeo-in cư trú tại khu vực Trung Á. Một người nữa có vai trò chính trong việc khai sinh ra ngôi trường này ở làng Goryeo-in là mục sư Lee Chun-young. Nếu như Shin Joya được gọi là “mẹ đỡ đầu” của ngôi làng Goryeo-in thì vị mục sư này chính là người “cha đỡ đầu” của họ.
Những giờ học tiếng Hàn của ngôi làng Goryeo-in được chia theo trình độ và thời gian ở các lớp học khác nhau. Nếu người học đã nhiều tuổi hoặc là người trưởng thành thì có ba cấp độ sơ cấp, trung cấp và cao cấp; đối với thanh thiếu niên mới đến cư trú tại đây cũng có những lớp học tiếng Hàn riêng biệt. Với những người làm cuối tuần hoặc làm ca đêm không thể dành thời gian đi học thì họ có thể vừa làm việc vừa nghe giảng trên đài phát thanh Goryeo FM. Những hình thức dạy học này nhận được những phản ứng rất tích cực.
Hơn thế nữa, năm 2013 Trung tâm thiếu nhi đã được mở cửa. Tại đây, học sinh các cấp sau giờ học chính khóa, được hướng dẫn tiếng Hàn, tiếng Anh, viết tiếng Nga, toán học, các môn nghệ thuật và được dạy cả bóng đá, guitar. Nhà thiếu nhi khánh thành vào năm 2012 nhận dạy con cái của những gia đình có cả ba mẹ đi làm từ sáng sớm tới tận tối khuya, dạy chữ Hangeul, các hoạt động nghệ thuật, thể thao và cung cấp hai bữa ăn mỗi ngày cho học sinh. Từ tháng 7 năm 2017, trung tâm còn mở thêm cả trường tiểu học dạy tiếng Nga vào cuối tuần, bởi con cái của người Goryeo-in cần thiết phải học cả hai ngôn ngữ là tiếng Hàn và tiếng Nga. Tuy đã học tiếng Nga từ lúc sinh ra, nhưng thời gian sống tại Hàn Quốc dài khiến ngày càng nhiều trẻ em quên mất tiếng Nga của mình.
“Chúng tôi sẽ thể hiện niềm tự hào là hậu duệ của dân tộc Hàn bằng việc duy trì những ý nguyện của tổ tiên, những người đã cống hiến cho phong trào độc lập mang lại chủ quyền quốc gia, trên chính mảnh đất của quê hương”.
Dân làng Goryeo-in tổ chức kỷ niệm ngày chủ nhật thứ ba của tháng Mười là “Ngày Goryeo-in”. Trẻ em trong ảnh đang tạo dáng chụp hình lưu niệm cùng dân làng sau khi biểu diễn múa quạt truyền thống của Hàn Quốc nhân dịp ngày kỷ niệm lần thứ năm, 2017.
Vấn đề trọng tâm duy trì truyền thông và cộng đồng
Trung tâm hỗ trợ tổng hợp Goryeo là trái tim của ngôi làng này. Nơi đây là trạm dừng chân nghỉ cho những người Goryeo-in có hoàn cảnh đáng thương khi họ không có nhà ở, và đang phải đi tìm việc làm. Đây là nơi mọi người tư vấn và được giải quyết toàn bộ những vấn đề khó khăn trong khi xin việc, bị tai nạn lao động, nợ lương, các vấn đề visa.
Bảo tàng lịch sử Goryeo, được mở cửa từ tháng 6 năm 2017, cũng thu hút được nhiều sự chú ý. Nằm ngay cạnh trung tâm hỗ trợ tổng hợp, bảo tàng tuy chỉ là một không gian nhỏ nhưng bao quát quãng đường lịch sử, từ khi những người Hàn sống tại Maritime của Nga những năm 1860 đến trước giai đoạn 1937, khi họ bị cưỡng chế di cư sang vùng đất hoang vu của Trung Á, trải qua những cuộc đấu tranh kháng Nhật khốc liệt; con cháu của họ đã sống và phải chịu đựng những kì thị và phân biệt đối xử ra sao. Năm 2017, “Dự án kỉ niệm 80 năm di cư cưỡng chế của người Goryeo-in” đã được khởi xướng.
Một trong số những yếu tố duy trì cộng đồng tại làng Goryeo-in ở Gwangju chính là truyền thông. Khi ai có ai đó gặp phải những khó khăn như lâm bệnh nặng hoặc thiếu tiền cho chi phí phẫu thuật, mọi người sẽ tạo nên một hệ thống giúp đỡ lẫn nhau thông qua đài phát thanh Goryeo FM hoặc bản tin phát thanh Nanum (“Chia sẻ”). Goryeo FM là đài phát thanh đầu tiên trong lịch sử dành cho những người di cư. Để giúp cho những người Goryeo-in thành thạo tiếng Nga hơn tiếng Hàn, 80% chương trình được phát bằng tiếng Nga. Những chương trình phát thanh Goryeo FM được phát 24 giờ trong ngày, và được yêu thích tới mức “những người họ hàng bạn bè sống tại Trung Á cũng đang cài ứng dụng để nghe đài này”. Mặt khác, bản tin phát thanh Nanum truyền tải những tin tức nhỏ nhất tại làng Goryeo tới hơn 110.000 người thông qua facebook hoặc email.
Những người của thế hệ thứ tư
Những người Goryeo-in tại khu vực Gwangju đang tạo dựng vị thế của mình bằng một tinh thần cộng đồng mạnh mẽ. Họ vừa giúp đỡ lẫn nhau, sáng lập nên những “nhóm từ thiện” lo công việc ma chay cưới hỏi, vừa duy trì những hoạt động của tổ chức tình nguyện dọn dẹp đường phố hay ngăn ngừa tội phạm một cách tự giác. Ngoài ra, mỗi tháng họ chọn một ngày là “ngày tham quan làng Goryeo-in” thu hút sự quan tâm xã hội Hàn Quốc. Vào tháng 11 năm 2017, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Uzbekistan cũng đã tới thăm ngôi làng này.
Tuy những hệ thống hỗ trợ đa dạng đang được hoạt động một cách ổn định, nhưng cuộc sống của những con người nơi đây không phải bình an như vậy. Đặc biệt khó khăn nhất đến với những con người Goryeo-in này là khi họ bị bệnh. Mặc dù đã thực thi việc đăng ký bảo hiểm y tế cho kể cả những người có thời hạn lưu trú 90 ngày, nhưng nếu mỗi tháng phải đóng 100.000 won chi phí bảo hiểm thì cũng là một khoản quá sức.
Một khó khăn cận kề khác nữa với những người ở đây là vấn đề visa lưu trú. Theo luật dành cho kiều bào hiện hành, đến thế hệ thứ ba của người Goryeo được gọi là “kiều bào ở nước ngoài” và được chứng nhận cư trú dài hạn tại Hàn Quốc. Tuy nhiên từ thế hệ thứ tư trở đi được phân định thành “người nước ngoài”. Theo đó từ kiều bào Goryeo-in thế hệ thứ tư, dù có được sinh ra tại Hàn Quốc nhưng họ phải rời khỏi Hàn Quốc khi 19 tuổi – thời hạn kết thúc tư cách visa thăm hỏi, hoặc phải tiếp tục làm mới visa thăm thân và tiếp tục nhập cảnh theo thời hạn ba tháng một lần. Con cháu Goryeo-in đời thứ tư đang phải chịu những bất tiện theo luật này, chỉ riêng tại làng Goryeo-in Gwangju cũng tới hơn 400 người. Mong muốn tha thiết của họ chỉ có một, đó là không giới hạn visa của kiều bào tại nước ngoài để họ có thể đi qua lại một cách tự do.
Năm 2018 là năm có ý nghĩa sâu sắc, kỉ niệm 30 năm kể từ ngày người Goryeo-in quay trở về Hàn Quốc. “Chúng tôi sẽ thể hiện niềm tự hào là hậu duệ của dân tộc Hàn bằng việc duy trì những ý nguyện của tổ tiên, những người đã cống hiến cho phong trào độc lập mang lại chủ quyền quốc gia, trên chính mảnh đất của quê hương”. Sự cam kết hùng hồn của Shin Joya có lẽ đã biểu hiện quyết tâm mãnh liệt này của người Goryeo-in.
“MỘT BƯỚC NGOẶT TRONG CUỘC SỐNG”
– CÂU CHUYỆN CỦA KIM VLADIMIR
Kim Vladimir, một nhà thơ và là thế hệ thứ ba của kiều bào Hàn từ Uzbekistan, nổi bật trong số những cư dân của làng người Goryeo-in. Không phải bởi vì ông là giáo sư đại học ở Uzbekistan, nhưng giờ làm việc như một lao động công nhật, mà bởi vì ông giống như một người cổ vũ tinh thần cho những người tái định cư tại ngôi làng. Ông là người dẫn chương trình tiếng Nga “Văn học Vui vẻ”, một chương trình văn học trên đài phát thanh địa phương Goryeo FM. Thêm nữa, ông thường xuyên tham dự những sự kiện của quốc gia hoặc của thành phố như một đại diện cho cộng đồng làng Goryeo-in.
“Tôi đã từng không thể cầm thứ gì khác ngoại trừ cây bút. Nhưng trên mảnh đất của tổ tiên, tôi – lần đầu tiên trong đời –đã làm việc như một người lao động chân tay”, ông nói. “Đây là việc duy nhất tôi có thể làm ở đây bởi vì tôi không giỏi tiếng Hàn. Tuy nhiên, từ khi tôi trải qua cuộc tiểu phẫu ung thư ruột cách đây vài năm, thật khó để có thể làm những việc cần đến sức khỏe. Giờ tôi trồng táo, lê, việt quất và dâu tây ở trang trại.”

“Ông Kim đã rất đấu tranh khi chuyển về làm việc tại nhà máy. Trong suốt ba năm đầu ở Hàn Quốc, ông đã hối hận vì việc trở về của mình và nhiều lần cân nhắc việc quay lại Uzbekistan. Nhưng mặt khác, ông tâm sự, thật tuyệt vời đối với ông vì đã có thể về Hàn Quốc theo đúng như tâm nguyện cuối cùng của người cha mình. “Cha đã nói với tôi về Hàn Quốc ngay trước khi ông qua đời năm 1990. Ông nói tôi hãy quay về quê hương dù trong bất cứ hoàn cảnh nào”, ông nhớ lại.
Trong thời gian rảnh rỗi, ông Kim dành cho sáng tác thơ. Tháng 2 năm 2017, tập thơ đầu tiên của ông viết tại Hàn Quốc đã được xuất bản, tên là “Tuyết đầu mùa ở Gwangju”. Tựa đề này cũng là tên của một trong số 35 bài thơ trong tuyển tập, được ông Kim viết bằng tiếng Nga. Jeong Mak-lae, một giáo sư văn học Nga tại đại học Keimyung ở Daegu đã khích lệ ông xuất bản tập thơ này. Hai người quen biết nhau khi Jeong chuẩn bị luận văn về dân tộc Hàn tại Trung Á. Cô dịch những bài thơ này sang tiếng Hàn, và nó được đưa vào tuyển tập, những bài thơ bằng cả hai tiếng Hàn và Nga.Những bài thơ này tái hiện một cách sống động tình yêu với mảnh đất của tổ tiên, nó tự nhiên như niềm vui và nỗi buồn trong cuộc sống của tác giả, của tổ tiên, của những người đã từng bị trục xuất tới vùng Trung Á. Một trong rất nhiều vần thơ khiến chúng ta cảm nhận sự sâu sắc:
“Hàn Quốc! Quê nhà của chúng tôi, làm ơn hãy thấu hiểu/ Rằng chúng tôi sống ở xa, không phải lỗi của chúng tôi.” ( trích bài thơ “80 năm đau khổ chờ đợi”).
Vào mùa hè năm 2017, nhà thơ Kim đã giới thiệu về cộng đồng của ông trong “Một chuyến tàu nỗi nhớ:
Cuộc phiêu lưu trên con đường tơ lụa xuyên Siberi”, một chuyến đi dài 14 ngày, được bảo trợ bởi Hội đồng Dân chủ và Quỹ toàn cầu Hàn Quốc nhân kỷ niệm 80 năm sự kiện người Goryeo-in bị trục xuất tới Trung Á. Chuyến đi bằng tàu hỏa xuyên Siberi, từ Vladivostok của Nga tới Ushtobe và Almaty của Kazakhstan, tái hiện lại những bước chân gian khổ của tổ tiên người Hàn trong quá trình di cư. Nhà thơ Kim dự định sẽ cống hiến tập thơ thứ hai của mình để viết về sức mạnh của cuộc di cư.
Là một nhà thơ, ông vốn dĩ rất nhạy cảm với ngôn ngữ. “Ngôn ngữ xuất hiện tự nhiên trong đầu tôi sẽ là tiếng mẹ đẻ, thật đáng tiếc khi tôi không thể viết thơ bằng tiếng Hàn. Trong suốt những năm tháng ít ỏi tôi sống ở đây, tiếng Hàn của tôi đã được cải thiện một chút. Nhưng tôi nghĩ tôi sẽ học chăm chỉ hơn nữa”, ông nói.Ông Kim dạy văn học Nga tại Đại học ngoại ngữ Tashkent và Cao đẳng Y khoa Tashkent ở Uzbekistan trong 30 năm. Theo quy định về nghỉ hưu, ông đã bắt đầu nghỉ dạy ở tuổi 55. Sau đó ông quyết định lên chuyến bay trở về quê hương của tổ tiên vào tháng 3 năm 2011. Không lâu sau, vợ và những đứa con cũng đi theo ông. Hiện nay ông đang sống trong làng với gia đình hơn 10 thành viên, ông đã là ông của mấy đứa cháu nhỏ. Ông luôn tự hào khi nói, “Đây là quê nhà của tôi”. Một trong số những bài thơ của ông đã ghi lại rất chân thật cảm xúc này.“Những người bạn của tôi, ở nơi quê nhà lịch sử/ (…) / Tôi không muốn nghe những lời miệt thị “người ngoại quốc”/ Bởi vì tôi là người Goryeo-in, người Hàn Quốc/ Trong tinh thần, trong tâm hồn và trong dòng máu”. (trích bài thơ “Trung thu”).